NGÂM MÔNG & BÀI THUỐC THẦN CHO PHÁI NỮ

                                 


                              TẠI SAO PHỤ NỮ CẦN PHẢI NGÂM MÔNG

Trong xu thế của cuộc sống hiện đại, cách ăn uống và sinh hoạt của chúng ta đã bị sai lạc với tự nhiên, trái với sự cân bằng của vũ trụ,Chị em phụ nữ cũng cũng nằm trong số đó, vả có biết bao những rắc rối đang hành hạ đa phần số nữ giới,họ luôn phải đối đầu với các chứng bệnh phụ khoa. họ thường thấy khó chịu do chứng
      Viên nhiễm đường âm đạo, và ngứa ngáy khó chịu triền miên, lâu ngày dẫn đến bị chứng  u xơ, u nang vùng tử cung, buồng trứng, và đôi khi ảnh hưởng tới cuộc sống lứa đôi, phải lãnh hậu quả rất nghiêm trọng do biến chứng dẫn đến ung thư...

 Họ thường phải tìm đến các bác sĩ chuyên khoa cầu cứu, trị liệu, thông thường giới chyên môn   kết luận do bị nhiễm vi khuẩn vùng âm đạo cần phải dùng kháng sinh liều cao nhét đặt, hoặc uống thuốc nhằm tiêu diệt vi khuẩn, thường là không mấy hiệu quả, hoặc giả làm cho khô rát vùng kín bứt rứt khó chịu do tác dụng phụ của thuốc gây nên

Nếu khi gặp các sự cố nầy xin bạn hãy bình tĩnh rà soát lại chế độ ăn uống của bạn trước đó ra sao? Điều đầu tiên  nguyên nhân là do bạn đã ăn những loại thức ăn hướng lên và âm tính cao như hoa quả và những thứ mọc xa mặt đất, chế độ ăn nhiều thức ăn ngọt. vì đường đơn thưòng làm chua máu và nhiễm độc máu do axid ( thịnh âm), làm cho mông của bạn bị lạnh. Muốn giải quyết gốc rễ của vấn đề này thì bạn phải ăn những thức ăn cố tính quân bình cao, như cơm gạo lứt và phải nhai kỹ,  vả lại khi bạn thường có cái mông lạnh và hay bị đau lưng thì bạn còn phải quan tâm khá nhiều tới những thức ăn có tính cách hướng xuống như ngưu bang, cà rốt, sắn dây ( củ tươi đúng mùa, mua về tự luộc ăn, không mua sắn dây luộc sẵn bán ngoài đường phố vì họ dễ bỏ đường hoá học  cho nó ngon ngọt  thêm)  ăn rất nguy hại. Nên ăn thêm rong biển, phổ tai, củ sen… ( thịnh dương ) giúp bạn sẽ đươc cân bằng

Hơn nữa có một liệu pháp vô cùng tuyệt diệu mà đơn giản giúp cho chị em phụ nữ thoát được cái mông bị lạnh, phương thuốc thần của giới nữ, đó là pháp" ngâm mông". Vì trong quá trình bạn đã ăn các thức ăn hàn âm, làm cho các dịch thể bị oxit hoá tại vùng nhân cung nơi chứa đựng các tổ chức rỗng như vòi trứng, tử cung, ống dẫn trứng, âm đạo luôn tiết các dịch sinh lý.

Làm cho vi khuẩn dễ bám kết và hoạt động dai dẳng. Bạn dùng liệu pháp ngâm mông với dung dịch hỗn hộp từ thảo mộc và muối với nồng độ cao và nhiệt nóng từ 35 – 40 độ c. mông của bạn sẽ được giữ ấm, muối và thảo dược sẽ giúp sát khuẫn một cách an toàn đồng thời trục xuất các dịch thể bị nhiễm khuẩn ra ngoài âm đạo mà bạn không cần phải lo lắng. bạn nghĩ xem có loại thuốc nào làm cho bạn ấm ấp vùng lưng của bạn,vì nó là của ngõ của thận khí và mệnh môn, chân hoả là nơi tàng chứa sức sống của bạn không ? Bạn sẽ thấy cực kỳ sảng khoái dễ chịu và ngủ ngon ngay từ lần đầu ngâm mông, tôi cam kết với bạn không có gì thư giãn và sung sướng hơn bằng liệu pháp ngâm mông,

Hãy tích cực ngâm cho toát mồ hôi thì mới thành công, và không được vì lòng tham mà cứ ngồi mãi trong chậu nước ấm, khi nào toát mồ hôi thì đứng dậy lau khô và mặc quần áo để giữ nhiệt độ ấm ở mông cho được lâu chừng nào tốt chừng đó.


Các cụ xưa có câu:” Phải giữ ấm chân và ấm cật”. thật đúng không sai. Đó là cách giữ gìn sức khoẻ và thận khí  của bạn.


hotline: chuyên gia tư vấn
 Lê Thiện: 0909 933 705



LÀM ĐẸP TỪ THỰC DƯỠNG OHSAWA

                                   


                                      LÀM ĐẸP TỪ THỰC DƯỠNG OHSAWA



 | Chuyên mục: Chăm sóc da
-Con người quý nhất là bộ não cho ta sự tỉnh táo để điều khiển hành động của cơ thể.
-Sức khoẻ của con người được nuôi sống bằng máu và quyết định mức độ sức khoẻ ở nội tạng.
*Nội tạng khoẻ là kết quả của sự cho vào lành tố thay độc tố.
-Và làn da sẽ quyết định đẹp xấu bên ngoài nên con người nhất là phụ nữ đã bỏ ra rất nhiều thời gian và tiền bạc để chăm sóc bảo vệ da.
*Đã có biết bao nhiêu  những chuyên gia về dinh dưỡng và sắc đẹp ý tưởng tìm kiếm sản xuất ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu này của con người.
-Mục đích cuối cùng của chúng ta là mang chất dinh dưỡng trực tiếp vitamin vào da bằng mọi cách.
 Nhưng cách nào nhanh nhất – hiệu quả nhất sẽ kết thúc  việc tìm kiếm này của bạn.


 

Bộ sản phẩm lăn da mặt trị liệu
* Thực phẩm sạch, các loại thực phẩm từ thiên nhiên, như các loại ngũ cốc và thảo dược được lựa chọn theo bí quyết THỰC DƯỠNG OHSAWA quyết định yếu tố này. Chúng tôi đã thành công với công thức này trên da bằng cách tạo nhiệt độ trực tiếp trên da giúp da thẩm thấu vitamin có hiệu quả nhất. Từ đó mang lại một làn da trắng hồng mịn màng tự nhiên của vẻ đẹp ở tuổi 20 .
 Đây chính là vẻ đẹp mong muốn của chúng ta.!  Hãy tự tin với bộ sản phẩm lăn đá trị liệu công thức đơn giản và tiện dụng “tự làm đẹp” sẽ cho bạn thoả mãn đỉnh cao mơ ước.!


                             
     Đem lại cho bạn làn da  trắng hồng, trong suốt, mịn màng của tuổi đôi mươi

Cách thực hiện:

- Dùng 1 muỗng bột vào chén chuyên dụng đổ thêm 3 muỗng canh nước sôi
- cho bột bách cốc nở đều, thêm 1 muỗng nước pha dưỡng chất quậy đều,
- Dùng cọ phết hỗn hợp bột lên vùng da mặt
- Cây lăn bằng đá granit ngâm trong thố nước sôi 80-90%
- Lăn cây đá nóng trên vùng bột đã phết trên vùng mặt,
- Khi nước nguội bạn có thể thay nước nóng mới như vậy 3 lần là được
- Dùng nước ấm rửa sạch da mặt,
Không cần dùng bất cứ thêm loại mỹ phẩm nào khác,
Bạn sẽ cảm nhận được sự tuyệt diệu của làn da, vừa mịn màng, vừa săn chắc tự nhiên ngay từ lần đầu tiên

Hotline: Chuyên gia tư vấn. Lê Thiện: 0909 933 705


100 lời khuyên lúc lâm chung của vị Thầy thuốc Trung y 112 tuổi




Món quà để lại lúc lâm chung của một vị Thầy thuốc Trung y cao tuổi, thật quá tuyệt vời! Tổng cộng có 100 điều, mỗi điều đều rất cao thâm, nên cần phải đọc đi đọc lại nhiều lần, nó sẽ giúp bạn đề cao nhận thức đối với sức khỏe!


1. Hãy nhớ kỹ: Ngủ là yếu tố quan trọng nhất của dưỡng sinh. Thời gian ngủ nên từ 21h đến 3h sáng. Vì thời gian này là mùa đông trong ngày, mùa đông chủ yếu là ẩn náu, mùa đông mà không ẩn náu thì mùa xuân, hạ sẽ không thể sinh trưởng, sang ngày hôm sau sẽ không có tinh thần.

2. Hết thảy các vị thuốc dùng để trị bệnh cho dù là Trung y hay là Tây y đều chỉ là trị phần ngọn, không trị tận gốc. Tại vì hết thảy bệnh tật đều bắt nguồn từ những nguyên nhân sai lầm mà sản sinh ra hậu quả sai lầm. Nguyên nhân sai lầm mà không trừ dứt, thì hậu quả sẽ không thể bỏ tận gốc. Nguồn gốc căn bản của sức khỏe là tại tâm. Hết thảy pháp từ tâm sinh ra. Tâm tịnh thân sẽ tịnh. Vì thế khi bị bệnh rồi, không được hướng ngoại cầu, phải dựa vào hệ thống phục hồi của bản thân để chữa trị bệnh của chính mình. Kỳ thực con người và động vật là giống nhau, bệnh của động vật đều là tự dựa vào bản thân mà tự hồi phục, và con người cũng có khả năng đó.


3. Quan niệm đúng đắn có tác dụng giúp người bệnh tiêu trừ bệnh tật tốt hơn nhiều so với sử dụng biệt dược đắt đỏ và phẫu thuật. Có được quan niệm đúng đắn, bạn sẽ có quyết định đúng đắn, bạn sẽ có hành vi đúng đắn, và bạn sẽ có thể phòng ngừa rất nhiều bệnh tật phát sinh.

4. Con người vốn hội tụ hết thảy trí huệ, tuyệt đối không phải là học từ trong sách vở, mà là từ tâm chân thành, tâm thanh tịnh của bản thân, từ trong [thiền] định mà sinh ra


5. Trong giới sinh vật con người là linh thể có cấu tạo hoàn mỹ nhất, khi con người được sinh ra là đã có một cơ thể khỏe mạnh; sự điều chỉnh trạng thái khỏe mạnh của con người là dựa vào chính hệ thống điều tiết phục hồi của bản thân để hoàn thành, chứ không phải dựa vào nhân tố bên ngoài, các nhân tố bên ngoài chỉ có tác dụng phụ trợ.

6. Đại đa số hiện tượng bệnh tật của con người là hiện tượng biểu hiện khi cơ thể đang điều tiết, thanh lọc những thứ không tốt trong thân thể, là trạng thái biểu hiện ra khi cơ thể tự động điều tiết trở lại trạng thái cân bằng, vì thế chúng ta nên coi đó là hiện tượng sinh lý bình thường, chứ không nên coi đó là căn bệnh để tiêu diệt. Vì vậy khi con người bị bệnh, nhất định không nên có tâm thái oán trách và giận giữ, tâm lý phải ổn định, tâm định thì khí sẽ thuận, khí thuận thì máu sẽ thông, khi thuận huyết thông thì trăm bệnh đều sẽ tiêu tán.


7. Sức khỏe của con người không thể xa rời hai nhân tố: 1) Khí huyết đầy đủ; 2) Kinh mạch thông suốt ( bao gồm huyết quản và đường thông bài tiết những thứ cặn bã).

8. Khí huyết đầy đủ dựa vào: sự đầy đủ về thức ăn + dịch mật + bắt buộc trong khoảng thời gian (sau khi trời tối đến 1h40 sáng) có thể ngủ ngon giấc (thời gian này đại não hoàn toàn không làm việc, đều do thần kinh thực vật làm chủ đạo) + có thói quen sinh hoạt lành mạnh.
9. Kinh mạch thông suốt cần: Tâm thanh tịnh. Hết thảy thất tình lục dục đều có thể phá hoại tâm thanh tịnh, từ đó phá hoại sự lưu thông bình thường của kinh mạch.


10. Duy trì một cơ thể khỏe mạnh khỏe mạnh không chỉ cần “tăng thu” (gia tăng khí huyết), mà còn cần “tiết chi” (giảm thiểu sự hao tổn khí huyết).

11. Ăn uống quá độ không những không thể gia tăng khí huyết, mà còn trở thành những thứ cặn bã mang gánh nặng cho cơ thể, hơn nữa còn bị tiêu hao khí huyết để thanh lọc chúng đi. Lục phủ ngũ tạng là một xưởng gia công khí huyết, thức ăn là nguyên vật liệu, năng lực gia công là hữu hạn, còn thức ăn là vô hạn, cho nên số lượng thức ăn nhất thiết phải được khống chế.

12. Vận động thích hợp có thể giúp cho khí huyết lưu thông, nhưng đồng thời cũng tiêu hao đi khí huyết. Sự tuần hoàn của cơ thể tại vi mô chủ yếu dựa vào trạng thái lỏng và tĩnh mà đạt được, đây cũng là điều không thể thiếu cho một cơ thể khỏe mạnh.
13. Chất cặn bã trong cơ thể càng nhiều sẽ cần càng nhiều khí huyết để thanh lọc chúng, nhưng khi chất cặn bã nhiều lên và làm tắc huyết mạch sẽ làm giảm thiểu khí huyết, cái đó sẽ dẫn đến sự tuần hoàn ác tính, cũng chính là cơ lý khiến con người già yếu đi. Vì vậy nếu con người muốn khỏe mạnh không già yếu thì phải: 1) Giảm thiểu chất cặn bã trong cơ thể; 2) Tăng cường sự thông suốt của các đường kinh mạch; 3) Tăng cường khí huyết trong cơ thể.

14. Tin tưởng vào thuốc, tin tưởng vào số liệu kiểm tra, không bằng tin tưởng vào cảm giác của bản thân, tin tưởng rằng chính mình có đầy đủ năng lực để điều tiết. Nhưng trước hết bạn cần phải là người đắc đạo (trí huệ đã khai mở), mới có thể phân biệt được hết thảy những điều này.

15. Sự khỏe mạnh, khởi đầu từ việc điều hòa tâm tính. Vì sức khỏe của bạn, bạn hãy tu Phật. Tu Phật đạt được sự vui vẻ đó là sự hưởng thụ tối cao của đời người.

16. Đối với người có bệnh cũ mà nói, chỉ khi có khí huyết đầy đủ (một là thông qua phương pháp bổ sung khí huyết như đã giới thiệu ở đây, hai là thông qua việc đi tản bộ để đánh thông khí cơ), bệnh tình mới có thể hiển hiện ra. Vì thế người luyện công sau khi công phu đã đạt đến một trình độ nhất định đều xuất hiện một vài hiện tượng “bệnh”. Đến lúc đó phải vững vàng kiên định, tâm thần phải tĩnh lại và luyện nhiều tĩnh công hơn để gia tăng khí huyết của bản thân, để mau chóng vượt qua giai đoạn này.

17. Con người làm trái với quy luật dưỡng sinh, mặc dù không nhất định sẽ bị bệnh ngay lập tức, nhưng một khi đã hình thành thói quen, liền gia tăng nguy cơ mắc bệnh. Điều này giống với luật lệ giao thông, bạn vi phạm luật lệ giao thông, không nhất định sẽ xảy ra sự cố, nhưng tình trạng nguy hiểm là có thể thấy rất rõ ràng.

18. Tại sao con người nhất thiết phải duy trì trạng thái đói khát nhất định thì mới có lợi cho dưỡng sinh? Kỳ thực đây chính là sự vận dụng tuyệt diệu của chữ “Hư”. Đạo gia giảng, hư thì linh. Chính cái đó cùng với sự khiêm tốn khiến cho con người tiến bộ, giống như tự mãn khiến con người lạc hậu, vì thế con người nhất thiết phải thường xuyên duy trì trạng thái “hư linh”, mới có thể luôn luôn duy trì sự thanh tỉnh, duy trì sự khỏe mạnh.

19. Con người muốn khỏe mạnh, thì nhất thiết phải làm cho bên trong cơ thể có đầy đủ “khí” để “khí hóa” những thức ăn đi vào. Chỉ có như thế, thì bên trong thân thể bạn mới không tích tụ chất cặn bã, sẽ không có thức ăn thừa bị phóng thích và phân tán “hư hỏa” gây tổn hại các cơ quan nội tạng trong cơ thể bạn. Cái “hư hỏa” còn làm tổn hại “khí” của bạn. Vì thế, từ trên ý nghĩa đó có thể thấy, con người hiện đại bị bệnh, đại đa số là do ăn uống không điều độ mà thành.

20. “Nằm lâu hại khí”, “Ngồi lâu hại thịt”, “Nhàn hạ ắt khí ứ đọng”, lại dưỡng tĩnh quá độ, sẽ khiến công năng tiêu hóa của tì vị bị hạ thấp, chức năng của tạng phủ ì trệ, khí huyết lưu chuyển ứ tắc không thông thuận, lực đề kháng giảm, khả năng miễn dịch bị tổn hại, lượng đường, mỡ, axit uric, huyết áp tăng cao, dần dần lâu ngày, con người sẽ sinh bệnh, hơn nữa đa phần đều là thân thể yếu nhiều bệnh, ví dụ như cảm mạo thường xuyên, không muốn ăn, thần trí mỏi mệt, sốt ruột căng thẳng v.v…


21, Tục ngữ có câu “Linh cơ nhất động, kế thượng tâm lai” (nhạy bén hễ động, nảy ra sáng kiến). Chữ “cơ” nếu như có thể thực sự hiểu được thấu, thế thì ngộ tính của bạn được tính là đã khai mở rồi. Thầy giáo dạy người, bác sỹ trị bệnh, kỳ thực chính là đang chỉ ra cái “cơ” này của bạn, khiến cái “cơ” này của bạn khai mở. cái “cơ” này có lúc cũng gọi là “then chốt”. Đương nhiên cái “cơ” này khởi tác dụng là có điều kiện, cũng giống như khinh khí chỉ khi đạt đến nồng độ nhất định, thì gặp lửa mới có thể bùng cháy. Hãy nhớ kỹ, tác dụng của người khác đều là nhân tố bên ngoài, bản thân bạn mới thực sự là nguyên nhân bên trong.

22. Kỳ thực, rất nhiều sự phát hiện và phát minh chân chính, điều cần thiết [để sáng tạo ra chúng] không phải là cái gọi là hệ thống kiến thức trên sách vở; mà hoàn toàn ngược lại, một người chưa từng thông qua bất kể sự giáo dục nào một cách hệ thống, nhưng ngộ tính rất cao, là người có tư duy cởi mở, họ thường thực sự ngộ ra được chân tướng.

23. Con người tối kỵ nhất là loạn chữ, loạn tâm, khi đối ngoại có thể làm hỏng việc, đối nội có thể ảnh hưởng đến khí huyết, làm mất đi sự hoạt động thông thường. Phàm là khi vui buồn, tức giận, hoài nghi, lo lắng, đều là loạn, là căn nguyên của bệnh tật và đoản thọ, không chỉ khi dưỡng bệnh mới không nên loạn, mà khi bình thường cũng rất kỵ tâm loạn.

24. Giận nhiều hại gan, dâm nhiều hại thận, ăn nhiều hại ruột, ưu tư hại lá lách, phẫn nộ hại gan, sầu muộn hại tinh thần.
25, Khi đổ bệnh, đều do tâm suy yếu, ngoại tà thừa cơ xâm nhập. Mà khi tâm yếu khí nhược, mỗi khi do tâm tình hỗn loạn, thân thể không sung mãn, xuất hiện đủ loại bất an, Tham ăn, tham thắng, tham đạt, tham vui an dật, đều đủ để dẫn đến bị bệnh. Khi tham mà không được, thì dễ dẫn đến giận dữ. Hay giận dữ khiến tâm khí hỗn loạn, gan mật rối loạn, sáu mạch chấn động, ngũ tạng sôi trào, ngoài tà cùng lúc đó mà thừa cơ xâm nhập, đó là nguyên nhân của bệnh tật.

26, Người thường mong cầu trường thọ, trước tiên phải trừ bệnh. Mong cầu trừ bệnh, phải biết dụng khí. Muốn biết dụng khí, trước hết phải dưỡng sinh. Phương pháp dưỡng sinh, trước hết phải điều tâm (điều hòa tâm thái).

27, Con người do khí trong ngũ hành mà sinh, nhục thân lấy khí làm chủ. Khí bị hao tổn ắt sinh bệnh, khí ứ động không thông cũng sinh bệnh. Muốn trị bệnh này, ắt phải trị khí trước tiên.

28. Khí để thông huyết, huyết để bổ khí, tuy hai mà như một vậy. Phàm là người nhìn nhiều (sử dụng mắt nhiều) ắt tổn thương huyết, nằm nhiều tổn thương khí, ngồi nhiều tổn thương thịt, đứng nhiều tổn thương xương, đi nhiều tổn thương gân, thất tình lục dục quá độ ắt tổn thương nguyên khí, hại tới tâm thận. Như ngọn lửa cháy mạnh mẽ, bị hao tổn dương khí.

29. Trị bệnh về ngũ tạng, đầu tiên cần bổ khí. Thận là cấp bách nhất. Bổ khí nghiêm cấm động tâm, động tâm ắt nóng gan, các mạch bị chấn động, chân thủy sẽ hao tổn. Tâm bị động, sẽ dẫn khởi phong. Phong động ắt hỏa vượng, hỏa vượng ắt thủy can, thủy can ắt địa tổn.
30. Tâm định thần nhất, người được chữa bệnh cần tín tâm kiên định chuyên nhất, lưỡng tâm tương hợp, có thể trị khỏi bách bệnh, không cần dùng thần dược.

31. Bệnh của con người có thể chia thành 2 loại: một là kinh lạc cơ bản thông suốt nhưng khí không đủ. Biểu hiện là thường xuyên đau chỗ này chỗ kia, đó là vì khí của anh ta không đủ để khí hóa thức ăn, từ đó sản sinh ra tương hỏa (cũng gọi là hư hỏa), thuận theo kinh lạc di chuyển hỗn loạn trong thân thể, chỗ nào thông thì chạy qua chỗ đó, gặp phải chỗ bị tắc nghẽn, chỗ đó ắt sẽ bị đau. Những người như vậy uống một chút thuốc liền lập tức thấy công hiệu. Hai là kinh lạc không thông, khí không có chỗ nào để lưu lại trong thân thể. Biểu hiện bề ngoài không có chút dấu hiệu nào của bệnh tật, nhưng một khi đã phát bệnh thì rất nặng, hơn nữa loại người này dù uống thuốc gì thì hiệu quả cũng rất chậm, hoặc căn bản không có tác dụng gì.
Chủ phát gọi là cơ. Mũi tên muốn bay ra từ cánh cung, bắt buộc phải có cái cơ này để phát động. Bất kỳ sự tình nào cũng đều như thế, đều có một cái cơ, chỉ khi nào kích động cái cơ này, thì sự tình mới phát sinh, nếu chẳng kích động được cái cơ này, các điều kiện khác dẫu có nhiều đến mấy, cũng không có cách nào dẫn khởi sự việc. Vậy rốt cuộc cơ nó là cái thứ gì, nó chính là nhân tố then chốt để phát sinh mọi sự việc. Nó là điểm, không phải là diện. Thế nhưng nếu kích động được điểm này, thì có thể kéo theo cả một diện. Cho nên bệnh cơ là nhân tố then chốt nhất trong sự phát sinh, phát triển và biến hóa của bệnh, (cũng có thể nói, bệnh cơ một khi khai mở, bệnh trạng của người đó sẽ hiển hiện ra, người đó sẽ tiến nhập vào trạng thái tuần hoàn ác tính của bệnh, đối lập với bệnh cơ là “sinh cơ”. Khi sinh cơ mở ra, người đó sẽ tiến nhập vào trạng thái thuần tốt đẹp của quá trình hồi phục. Thực tế bệnh cơ và sinh cơ là hai phương diện của cùng một thứ, là một cặp âm dương. Khi bệnh cơ mở ra, sinh cơ sẽ đóng lại; khi sinh cơ mở ra, bệnh cơ tự nhiên cũng sẽ đóng. Đây gọi là pháp biện chứng).

32. Cảnh giới cao nhất của Trung y là dưỡng sinh, cảnh giới cao nhất của dưỡng sinh là dưỡng tâm. Cho nên, đối với dưỡng sinh mà nói, hạ sỹ dưỡng thân, trung sỹ dưỡng khí, thượng sỹ dưỡng tâm. Nhìn một cá nhân cũng giống như thế, nhìn tướng không bằng nhìn khí, nhìn khí không bằng nhìn tâm.

33. Tâm thần bất an, tâm tình nóng vội, là căn nguyên dẫn đến bị bệnh và tử vong. Phương pháp giữ tâm bình an, là bí quyết số một trong việc bảo vệ sinh mệnh. Tâm có thể chủ động tất cả. Tâm định ắt khí hòa, khí hòa ắt huyết thuận, huyết thuận ắt tinh lực đủ mà thần vượng, người có tinh lực đủ thần vượng, lực đề kháng nội bộ sẽ khỏe, bệnh tật sẽ tự tiêu tan. Cho nên để trị bệnh đương nhiên cần lấy dưỡng tâm làm chủ [yếu].
34. Phong hàn âm dương mùa hạ nóng ẩm, đều có thể khiến cho con người mắc bệnh. Ngộ nhỡ lực đề kháng yếu, [bệnh tật] sẽ thừa cơ xâm nhập. Người có thân thể yếu nhược thường nhiều bệnh, chính là cái lý này. Người giàu có điều kiện bảo hộ tốt, như ăn-mặc-ở v.v… Người nghèo có lực đề kháng, nếu như khí đủ thần vượng, lỗ chân lông dày khít, không dễ bị [bệnh tật] xâm nhập v.v… Người giàu ăn nhiều đồ béo ngọt, hại dạ dày hại răng. Người nghèo hay phải chịu đói, thức ăn không phức tạp, nhờ đó mà không bị bệnh ở ruột. Người giàu thường nhàn hạ, vì thế mà nhiều phiền muộn. Người nghèo lao động nhiều, nhờ đó mà bệnh tật ít. Người giàu không tạo phúc mà chỉ hưởng phúc, chỉ toàn tiêu phúc, tiêu cạn ắt nghèo. Người nghèo có thể cần kiệm, đó chính là tạo phúc, khi quả chín sẽ giàu có. Phàm là điều kiện bảo hộ ăn-mặc-ở đầy đủ thì lực đề kháng về tinh khí thần sẽ yếu. Điều kiện bảo hộ kém, lực đề kháng ắt sẽ mạnh.
35. Mới khỏi bệnh nặng, cần tránh cắt tóc, rửa chân, tắm gội

36. Con người đều muốn cầu trường thọ vô bệnh, thân thể luôn khỏe mạnh. Muốn thân thể khỏe mạnh, đương nhiên cần điều tiết tinh khí thần. Muốn điều tiết tinh khí thần, đương nhiên cần cự tuyệt sự can nhiễu của những thứ tà. Muốn chặn đứng tà, đầu tiên cần phải dưỡng tâm. Muốn dưỡng tâm, cần phải hóa giải tam độc tham-sân-si. Muốn hóa giải tam độc này, bắt buộc phải học tâm giới. Nhưng muốn giữ được giới về ngôn từ lời nói, không nói không làm những việc vô ích, cần phải khai [trí] huệ, vứt bỏ đi những điều ngu muội, và bắt buộc phải đạt được định trước tiên. Muốn đạt được định, tất phải học tản bộ.

37. Có thể tĩnh ắt phải là người nhân [nghĩa], có nhân [nghĩa] ắt sẽ thọ, có thọ chính là hạnh phúc thực sự.

38. Tất cả những pháp môn tu thân tu tâm, chỉ có bí quyết gồm 2 từ: một là phóng hạ, hai là quay đầu. Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật; Biển khổ vô biên, quay đầu là bờ. Chỉ cần phóng hạ, quay đầu, người bệnh lập tức khỏi, người mê lập tức giác ngộ. Đây mới thực sự là người có vô lượng thọ.

39. Người mà tâm quá lao lực, tâm trí mệt mỏi thì gan sẽ vượng, tâm quá lao lực chính là tâm quá đầy, không rỗng. Tâm đầy, ắt không thể dung nạp can (mộc) sinh chi hỏa, tâm không dung nạp can sinh chi hỏa, khí trong gan ắt sẽ tích tụ lại nhiều. Gan là mộc khắc thổ, nên tì vị sẽ mắc bệnh, tiêu hóa sẽ không tốt, dinh dưỡng không đủ, tối ngủ sẽ không yên. Mộc lại khắc thủy, từ đó mà thận thủy bị thiếu, thủy không đủ ắt hỏa càng vượng, tâm thận có liên hệ tương hỗ, nên tâm khí càng yếu, bệnh phổi sẽ hình thành. Nội bộ có mối liên quan tương hỗ, một thứ động sẽ kéo theo toàn bộ đều động, một chỗ bị bệnh sẽ khiến toàn cơ thể bị bệnh. Người có cái tâm nhiễu loạn, chính là do cái tâm ngông cuồng đầy tham vọng, cho nên muốn trị bệnh cần làm an cái tâm này lại, an cái tâm này lại chính là chấm dứt vọng tưởng, để chấm dứt vọng tưởng cần có tâm sáng, tâm sáng chính là tự giác ngộ, mà để đạt được khỏe mạnh thì công hiệu nhất lại là ở tản bộ.

40. Tản bộ là phương pháp điều hòa tâm, tâm điều hòa ắt thần an (tinh thần an lạc), thần an ắt khí đủ, khí đủ ắt huyết vượng, khí huyết lưu thông, nếu có bệnh có thể trừ bệnh, nếu không đủ có thể bồi bổ, đã đủ rồi có thể gia tăng. Bệnh hiện tại có thể trừ, bệnh tương lai có thể phòng tránh. Điều tâm còn khiến cho thần minh (tinh thần minh mẫn sáng suốt), thần minh ắt cơ linh, người có tâm thanh tĩnh thật tuyệt diệu biết bao, họ có cái nhìn biện chứng, tác phong bề ngoài linh hoạt, thấu hiểu các nguyên lý một cách chính xác, liệu sự nhìn xa trông rộng, gặp loạn bất kinh, thấy cảnh đẹp không bị mê hoặc, có thể thông đạt mọi thứ, bản thân không có những ý kiến chủ quan sai lệch, đại cơ đại dụng, chính là từ đó mà ra.
41. Con người khi bị bệnh kỵ nhất là khởi tâm oán giận. Lúc này nhất định phải giữ sự bình an hòa ái, khiến cho tâm an định. Sau đó dần dần điều chỉnh, sức khỏe sẽ rất nhanh hồi phục. Tâm an thì khí mới thuận, khí thuận mới có thể trừ bệnh. Nếu không ắt tâm sẽ gấp hỏa sẽ thăng, can khí sẽ phải chịu hao tổn, làm bệnh tình càng thêm nặng. Tâm thân yên nhất, khí huyết toàn thân ấy, sẽ tự phát huy tác dụng khôi phục sức khỏe.

42. Giờ Tý (từ 11 giờ đêm đến 1 giờ sáng) mất ngủ, thủy thận tất thiếu, tâm thận có liên hệ tương hỗ, thủy thiếu ắt hỏa vượng, rất dễ tổn hại tới [tinh] thần.

43. Trong khi ngủ nếu có tư tưởng, tâm không thể an, không được vừa nằm vừa suy nghĩ trăn trở, rất dễ hao tổn [tinh] thần.

44. Giờ Ngọ (từ 11 giờ đến 13 giờ) thuộc về tâm, giờ này có thể tản bộ 15 phút, nhắm mắt dưỡng thần, tâm khí ắt khỏe mạnh.

45. Dậy sớm trong khoảng giờ Dần từ 3 giờ đến 5 giờ, giờ này kỵ nhất buồn giận, nếu không ắt hại phổi tổn thương gan, hy vọng mọi người hết sức chú ý.
46. Tất cả sự nghiệp trong cuộc đời, đều lấy tinh thần làm căn bản, sự suy vượng cường thịnh của tinh thần, đều dựa vào sự tĩnh định bất loạn của tâm và thần, một chữ loạn, cũng đủ để làm trở ngại tới công việc.

47. Nhân sinh lấy khí huyết lưu thông làm chủ, khí ứ đọng có thể ngăn trở huyết, máu huyết bị ngăn trở có thể tích độc thành nhọt thành bệnh, thành u thành ung thư, tất cả đều là do huyết khí không thông tạo thành. Khí lấy thuận làm chủ, huyết lấy thông làm suôn sẻ. Căn nguyên bách bệnh đầu tiên đều do khí tắc, khí bị tắc bên trong, gan sẽ bị thương tổn trước tiên. Cách cứu chữa, chính là ở bí quyết hóa giải. Mà bí quyết hóa giải lại gồm có 2 loại: Một là tìm căn nguyên của nó, căn nguyên này chính là ở tâm, tâm không ắt tất cả tự động được hóa giải. Hai là dùng thuốc và châm cứu, trợ giúp hóa giải thêm bằng mát xa, sẽ giúp cho khí huyết lưu thông.

48. Dưỡng bệnh trị bệnh không thể đòi hỏi nhanh. Bởi vì nóng vội sẽ trợ giúp hỏa, hỏa vượng sẽ tổn khí, gây tác dụng ngược lại. Ngoài ra không thể tham nhiều, tham lam ắt tâm không kiên định mà nóng vội, huống hồ bách bệnh đều do tham mà ra, nên không thể lại tham mà làm cho bệnh tình càng thêm nặng là vậy.

49. Tâm thuộc tính Hỏa, Thận thuộc tính Thủy, Tâm Thận liên hệ tương hỗ. Hỏa cần giáng hạ, Thủy cần thăng lên, Thủy Hỏa tương tề, ắt khí trong thân thể sẽ bộc phát. Các bộ phận cơ thể vận động, có thể được mạnh khỏe. Điều này qua việc quan sát lưỡi có thể biết được. Lưỡi không có nước ắt không linh hoạt, vì chữ hoạt (活) là do bộ Thủy và chữ lưỡi (舌) ghép thành. Lưỡi có thể báo cáo tình trạng nặng nhẹ của các loại bệnh bên trong thân thể, từ đó mà phán đoán việc sinh tử.

50. Phương pháp tự cứu khi lâm đại bệnh: Một là không được sợ chết, tin tưởng rằng bệnh của mình, không những có thể khỏi, mà thân thể có thể trở nên đặc biệt khỏe mạnh, sống lâu trường thọ. Bởi vì bản thân cơ thể bản chất đã có năng lực này, không phải chỉ là suy nghĩ để tự an ủi. Hai là tin tưởng không cần dùng thuốc hoặc dựa vào bất kỳ thực phẩm dưỡng sinh nào, nhất định bản thân tự có khả năng trừ bệnh kéo dài tuổi thọ. Ba là bắt đầu từ hôm nay, phải quyết định không được lại động tới thân bệnh của bản thân, không được nghĩ tới bệnh của bản thân là bệnh gì, tốt hay xấu đều không được suy tính về nó, chỉ làm một người vô tư. Bốn là trong khoảng thời gian chữa trị, không được nghĩ tới công việc, cũng không được hối hận về công việc và thời gian đã mất, chuyên tâm nhất trí, nếu không sẽ lại chậm trễ có khi hỏng việc.

51. Phương pháp dưỡng tĩnh: an tọa (nằm) trên giường, đặt thân tâm nhất tề hạ xuống, toàn thân như hòa tan, không được phép dùng một chút khí lực nào, như thể không có cái thân thể này vậy, hô hấp tùy theo tự nhiên, tâm cũng không được phép dùng lực, một niệm khởi lên cũng là đang dùng lực. Để tâm đặt xuống tận dưới bàn chân, như thế có thể dẫn hỏa đi xuống, dẫn thủy đi lên, tự nhiên toàn thân khí huyết sẽ thông thuận.

52. Yếu quyết tu luyện: tĩnh lặng theo dõi, tránh dùng lực
Yêu cầu cụ thể: Không cho phép bất cứ bộ phận nào dùng khí lực dù chỉ một chút, bao gồm ý niệm, hô hấp, tứ chi, cần làm được: mắt không nhìn, tai không nghe, mũi không ngửi, lưỡi không nếm, miệng không nạp (ăn), tâm không nghĩ. Đó là điều kiện duy nhất. Nếu có bất cứ hành vi tư tưởng, nghe, cảm giác nào đều là đang dùng khí lực, thậm chí cử động ngón tay cũng là dùng khí lực. Thở mạnh cũng lại là dùng khí lực. Không bao lâu hơi thở sẽ tự nhiên trở nên an hòa, như thể không phải ra vào từ lỗ mũi, mà như thể 8 vạn 4 ngàn lỗ chân lông trên toàn cơ thể đều có động tác, hoặc nở ra hoặc khép lại, lúc này sẽ là trạng thái vô ngã vô thân vô khí vô tâm, tự nhiên tâm sẽ quy hồi vị trí bản nguyên. Cái gọi là dẫn hỏa quy nguyên, hay còn gọi là thủy hỏa ký tế, chính là bí quyết chung để điều trị bách bệnh.

53. Trường hợp chăm chút dưỡng sinh nhưng lại chết sớm, chiếm đến ba phần mười, vậy rốt cuộc là thế nào? Đó là vì quá yêu quý thân thể của mình. Vì cái thân xác này, sợ phải chịu xấu hổ, sợ bị nuông chiều, sợ chịu thiệt, sợ bị mắc lừa, lo trước lo sau, nhìn ngang nhìn dọc, lo lắng hốt hoảng, tính toán thiệt hơn … như thế, trái tim đó của anh ta cả ngày giống như quả hạch đào bị chó gặm đi gặm lại, làm sao mà có thể không chết chứ. Càng sợ chết, càng chết nhanh. Nếu bạn muốn dưỡng sinh, thì phải không sợ chết. Chỉ có không sợ chết, mới có thể cách xa cái chết.
Người thực sự không sợ chết, đi đường sẽ không gặp phải hổ, nếu có gặp phải, hổ cũng không ăn thịt anh ta. Đánh nhau không gặp phải đao súng, nếu có gặp, đao súng cũng sẽ không làm anh ta bị thương. Tại sao? Bởi vì anh ta không coi cái chết là gì, không sợ chết, cái chết cũng không có cách nào. Dưỡng sinh, mặc dù không phải là mục đích của việc tu đạo, nhưng người tu đạo đã nhìn thấu được sinh tử, cho nên sẽ không sợ chết nữa, vì đã không sợ chết nữa, nên cái chết cũng không còn là vấn đề. Quan sinh tử đã qua rồi, còn gì mà không thể vượt qua nữa? Vì thế, người tu đạo có thể trường sinh. Không nghĩ đến trường sinh, trái lại lại có thể trường sinh. Tâm luôn nghĩ muốn trường sinh, trái lại càng nhanh chết. Trường sinh không phải là mục đích của tu đạo, nó chỉ là hiện tượng đi kèm của tu đạo.

54. Người có bệnh, lại không cho rằng mình có bệnh, đây chính là bệnh lớn nhất của con người. Người mà biết bản thân mình có bệnh liệu có được bao nhiêu?

55. Người mà ngày nào nửa đêm canh ba cũng vẫn còn ở trên mạng, bản thân đó chính là điều đại kỵ của dưỡng sinh. Bao gồm cả một số người gọi là danh y cũng thế. Ngoài ra, tâm của họ còn luôn tính toán so đo, thử hỏi người như vậy thì đến bản thân còn không giữ nổi, thì làm sao chữa bệnh cho người khác đây?

56. Đừng tham những cái lợi nhỏ nhặt, cái lợi lớn cũng đừng tham. Một từ tham nhưng bao hàm cả họa. Tham lam, suy tính thiệt hơn sẽ khiến cho người ta mắc các bệnh về tim. Tham lam, suy hơn tính thiệt là biểu hiện của việc không hiểu Đạo Pháp về cái lý tự nhiên.

57. Đừng có ngày nào cũng nghĩ xem ăn cái gì để bổ âm, ăn cái gì để tráng dương. Hãy nhớ kỹ, vận động là có thể sinh dương; tản bộ thì có thể sinh âm. Âm là mẹ của dương, dương là được vận dụng bởi âm.

58. Người ta khi khí không đầy đủ, không được mù quáng mà bổ khí, nếu không ắt sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe. Nếu như vì huyết không đủ, thì cần phải bổ huyết trước, bởi vì huyết là mẹ của khí, nếu không ắt sẽ thành dụng cụ thiêu đốt, làm cho nội tạng bị đốt cháy; nếu là vì kinh lạc không thông, thì có thể gia tăng khí huyết, đồng thời bồi bổ khí huyết. Như vậy mới có thể đạt được tác dụng của bổ khí.

59. Hoàn cảnh đối với người dưỡng sinh có tính trọng yếu là điều vô cùng rõ ràng. Đây chính là đạo lý mà vì sao người ở những vùng không khí trong lành nơi rừng sâu núi thẳm, có thể dưỡng khỏi những bệnh tật khó chữa. Bởi vì những vật chất tinh vi nơi rừng sâu núi thẳm (ion điện âm) sẽ thông qua trạng thái thả lỏng của con người trong khi hít thở sâu mà hấp thụ vào trong nội bộ nhân thể, từ đó mà tưới đều lục phủ ngũ tạng, khiến cho người ta có được sức sống mới. Ngoài ra còn có một điểm mà người thường không hề biết, đó chính là con người không chỉ hô hấp thông qua lỗ mũi, mà mỗi một lỗ chân lông trên thân thể con người đều có thể hô hấp, hơn nữa những gì chúng hấp thụ chính là tinh hoa của trời đất.

60. Con người trong trạng thái thả lỏng và tĩnh, hít thở sâu và chậm có thể cảm nhận được sự giao hoán những tinh khí của con người với trời đất: Trong khi hấp thụ khí, thực tế ngoại trừ lúc phổi đang hít khí vào, toàn bộ thân thể đều đang bài trừ khí bên trong thân thể ra ngoài, và đem khí của người phóng thích ra ngoài trời đất; còn khi phổi đang thải khí ra, thực tế con người đang hấp thụ tinh khí của đất trời thông qua các lỗ chân lông. Điều này đại khái chính là điều mà Lão Tử đã nói “Thiên địa chi gian, kỳ do thác dược hồ”

61. Khi vận động có hai điểm cấm kỵ: một là không được vận động khi khí huyết không đủ; hai là không được vận động trong môi trường bị ô nhiễm.

62. Vận động có hai tác dụng: một là gia tăng tốc độ vận hành của khí huyết, thúc tiến quá trình bài xuất chất cặn bã trong thân thể ra ngoài; hai là khai mở lỗ chân lông trên da, để hấp thụ tinh khí của trời đất.

63. Ngộ tính là gì? Trí huệ là gì? Ngộ tính và trí huệ chính là sử dụng những phương pháp đơn giản nhất để xử lý, xem xét tất cả các sự vật. Nhưng có một số người thường hay gây nhiễu loạn luôn nhìn những sự việc đơn gian thành phức tạp, làm thành phức tạp. Phức tạp và đơn giản kỳ thực là một thứ, là hai mặt của một thứ. Điều người thông minh nhìn thấy là mặt đơn giản, điều người ngu xuẩn nhìn thấy là mặt phức tạp.

64. Con người không trị được bệnh, thì cần phải nhờ Thần trị; Thần trị không khỏi bệnh thì phải nhờ Phật trị. Phật giảng điều gì? Điều Phật giảng là tâm.


65. Bệnh viện và tòa án ngày nay đều như nhau, có động tới hay không cũng đều đưa cho bệnh nhân giấy thông báo phán quyết tử hình. Mà trong nhiều tình huống, phán tử hình cho nhiều người đáng lẽ không bị tử hình. Tại sao lại nói như thế? Lấy “ung thư” làm ví dụ, trong tâm con người ngày nay ung thư đồng nghĩa với tử hình. Kỳ thực nếu như chúng ta không gọi nó là ung thư, thế thì đối với bệnh nhân mà nói, chính là mang cho bệnh nhân một tia hi vọng, bằng như lưu lại cho họ một cơ hội sống. Cho nên tôi mới nói, bệnh nhân ung thư ngày nay có đến hơn một nửa là bị dọa chết, là bị áp lực tinh thần dày vò đến chết. Đồng thời cũng chính là bị bệnh viện hành hạ đến chết.
Bởi vì một khi bạn bị chẩn đoán thành bệnh ung thư, họ sẽ có thể không kiêng nể gì cả mà tùy ý xử lý bạn, điều trị mà không chết coi như mệnh của bạn lớn, điều trị mà chết, thì là do bệnh của bạn là ung thư. Sự thực mà nói, không có bệnh gì là trị không khỏi, chỉ là xem cái tâm của bạn có thể buông xuống được không, tất cả bệnh tật đều từ tâm sinh, tất cả bệnh tật cũng đều từ tâm mà trị. Chỉ cần bạn vẫn còn sống, bạn vẫn còn cơ hội. Tìm thấy được cơ hội này, áp dụng nó đối với việc trị bệnh ung thư, bạn sẽ khỏe mạnh trở lại.

66. Hiện nay ngoài xã hội đều nói về cạnh tranh, việc này đã khiến cho mọi trật tự bị đảo loạn, khiến cho con người bị dẫn dụ vào ma đạo. Cạnh tranh là gì? Cạnh tranh chính là khiến người ta bị cuốn vào cảnh giới tham dục vô hạn. Một mặt bạn đề xướng cạnh tranh, một mặt bạn nói về những gì là xây dựng và ổn định xã hội, đây chẳng phải là điển hình của việc tự lừa mình dối người sao.

67. Căn cứ vào nguyên lý âm dương tương hỗ mà xét, thanh khiết và vẩn đục là hấp dẫn lẫn nhau. Cho nên con người ăn vào những thứ tươi mới tất sẽ có tác dụng tương hợp với những vật chất bẩn trong cơ thể, từ đó mà bài trừ những thứ ấy ra ngoài.

68. Những vật chất vẩn đục sinh ra là do ăn vào những thực phẩm không sạch, nhưng chủ yếu là do ăn quá nhiều, cơ thể không thể tiêu hóa được khiến đống thức ăn thừa đó biến thành cặn bã.

69. Tùy kỳ tự nhiên là cảnh giới cao nhất của dưỡng sinh. Một người khi sinh ra, vận mệnh của anh ta căn bản là đã có định số rồi. Anh ta nên làm gì, không nên làm gì, nên ăn gì, không nên ăn gì, nếu như có thể thuận theo vận số của bản thân mà làm, thì sẽ có thể được bình an vô sự. Người có ngộ tính sẽ phát hiện ra được, sẽ biết được vận mệnh của bản thân, biết được họ nên làm cái gì, không nên làm cái gì. Cho nên dưỡng sinh tuyệt đối không đơn giản là bắt trước, bảo sao làm vậy.
Không cần hâm mộ người khác, cần tìm ra ngộ tính của bản thân từ trong tâm của chính mình. Vậy con người làm thế nào mới có thể phát hiện bản thân đã đạt được tùy kỳ tự nhiên hay chưa? Kỳ thực điều này quá dễ, khi bạn có bệnh, bạn cảm thấy không thoải mái, bạn thấy không được tự tại, chứng tỏ bạn đã đi ngược lại tự nhiên rồi. Cần làm được thuận theo tự nhiên của đại tự nhiên bên ngoài, ngoài ra còn phải thuận theo lẽ tự nhiên của vận mệnh bên trong bản thân, hai điều này đều không thể thiếu được.

70. Rất nhiều người khi nghe thấy bác sỹ tuyên bố bản thân bị mắc trọng bệnh, thường đều sẽ biểu hiện ra dáng vẻ không vui, hi vọng có thể dùng phương pháp cắt, gọt, độc, giết v.v… để loại bỏ căn bệnh đó, tuy nhiên, bệnh tật thực sự không phải sản sinh từ đó? Trên thế gian tuyệt đối không có hiện tượng “đang khỏe mạnh đột nhiên sinh bệnh”. Lấy cảm mạo làm ví dụ, nếu thực sự yêu cầu bệnh nhân tự làm kiểm điểm, thông thường bệnh nhân sẽ cho biết, bản thân trước khi cảm mạo, đã trải qua vài lần thức thâu đêm; có người sẽ nói rằng bản thân bị trúng gió lạnh, bị dính mưa ướt; có một số người lại nói do áp lực công việc quá lớn, thường xuyên đau đầu, mất ngủ. Kỳ thực, những hiện tượng như thế, đều có thể là nhân tố dẫn tới cảm mạo, nói thêm nữa, nếu như độ mẫn cảm và tính cảnh giác của con người đầy đủ, tự nhiên sẽ có thể đạt được mục đích “đề phòng tai họa”.
71. Khoa học chân chính là gì? Chính là nhân duyên quả báo. Không tin nhân quả, thì không phải là khoa học chân chính.
72. Cái tâm không sợ chịu thiệt, không sợ bị người khác chiếm lấy lợi ích. Hay nói một cách khác là bạn có thể chịu thiệt, người khác muốn lấy mạng của bạn mà bạn vẫn có thể buông xả, bạn đều có thể cho họ hết, hơn nữa tự bản thân trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều không ham lợi ích, khi đó cái tâm của bạn có thể sẽ không định (tĩnh lặng) sao? Con người trên thế gian có ai làm được? Nhưng Phật là có thể làm được.
73. Sau khi con người nắm vững được phương pháp về sức khỏe, họ sẽ thực sự hưởng thụ được một trạng thái tự tin khi không còn lo sợ mắc bệnh. Cái loại cảm giác này thật tuyệt, hy vọng rằng bạn và chúng tôi đều có thể có được trạng thái tự tin đó
.
74. Khi học vấn thâm sâu ý chí sẽ bình lặng, tâm định ắt khí sẽ yên. Cho nên đối với một người đắc Đạo mà nói, quan sát một người, không phải là một việc quá khó khăn, đây cũng là kết quả của tướng tùy tâm chuyển.

75. Danh là điều khó phá vỡ nhất trong ngũ dục, sắc đứng thứ hai, tiếp theo là tài, sau đó là ăn và ngủ. Tâm về danh không bỏ, thì không có cách nào nhập Đạo.

76. Khởi nguồn của bách bệnh, đều bắt nguồn từ việc bị gió độc thừa cơ xâm nhập. Nếu như thân thể khí suy nhược, khả năng phòng vệ kém, hoặc ưu tư sợ hãi, đắm chìm trong tửu sắc, làm việc quá lao lực, chân khí sẽ bị hao tổn từ đó tà ngoại thừa cơ tấn công.

77. Trị bệnh về ngũ tạng, đầu tiên cần phải bổ khí. Khi bổ khí cấm động tâm, tâm động ắt gan vượng, gây chấn động mạch, chân thủy sẽ hao tổn. Tâm là quạt, sẽ dẫn khởi gió. gió động ắt hỏa vượng, hoặc vượng ắt thủy can, thủy can ắt địa tổn.

78. Đối với bác sỹ mà nói, tâm định thần nhất, người được chữa bệnh có tín tâm kiên định, lưỡng tâm tương hợp, có thể trị được bách bệnh.
79. Qua trường hợp Hitler đi vòng qua phòng tuyến kiên cố Maginot của quân đội liên minh, tôi ngộ ra rằng: để đối phó với một số bệnh cứng đầu, không thể tấn công cứng nhắc từ chính diện, cần đột phá từ những phương diện khác có liên quan. Chẳng hạn như việc điều trị các bệnh cứng đầu như bệnh thận, bệnh gan, có thể đạt được hiệu quả thông qua việc điều chỉnh phổi và lá lách v.v…

80. Trung Dung, là nguyên tắc căn bản của dưỡng sinh. Khí huyết trong cơ thể người cũng là một cặp âm dương, huyết là âm là thể, khí là dương là dụng. huyết là mẹ của khí, khí là chủ tướng của huyết. Khí không đủ, dễ mắc các bệnh do ứ trệ tạo nên như mọc u, tắc động mạch; khí quá độ; dễ mắc các bệnh về xuất huyết não. Cho nên, chỉ khi khí huyết cân bằng, con người mới có thể khỏe mạnh

81. Con người chỉ khi ngộ ra được cái gì là “tự nhiên”, mới được coi là đắc đạo. Biết được tự nhiên, sau đó mới có thể tùy kỳ tự nhiên. người này chính là Thần nhân. Hiểu được âm dương, hiểu được tùy kỳ tự nhiên, bạn nhất định sẽ trở thành lương y đại đức.

82. Cái gì là tự nhiên, tự nhiên chính là bất kỳ sự vật gì đều có hai mặt âm dương, bất kỳ sự vật nào đều cần trải qua quá trình Sinh (sinh sản), Trưởng (tăng trưởng), Thu (thu hoạch), Tàng (tàng trữ). Bạn thuận theo quá trình này, sử dụng nguyên lý tương sinh tương khắc của ngũ hành để điều tiết sự cân bằng của bệnh nhân, làm sao mà không trị được khỏi bệnh chứ.

83. Đơn giản và phức tạp là một cặp âm dương, sự tình càng phức tạp, thường thường sử dụng biện pháp đơn giản nhất lại có thể giải quyết. Cũng đồng dạng như thế, một vấn đề nhìn tưởng chừng đơn giản, để giải quyết nó bạn sẽ thấy thật không dễ dàng, bạn phải phó xuất nỗ lực rất lớn cũng không nhất định giải quyết được. Điều này giống cương nhu vậy, cực nhu có thể khắc chế cương, cực cương thì nhu cũng không thể chống. Cho nên, chúng ta khi giải quyết vấn đề cần có lối suy nghĩ rằng, gặp phải vấn đề phức tạp nên tìm biện pháp đơn giản để giải quyết, gặp phải vấn đề đơn giản đừng vội coi thường nó, cần phải chú trọng đủ mức tới nó.

84. Chúng ta hãy thử xem trong thế giới này có phải là có tồn tại đạo lý đó hay không. Liệu có được mấy người có thể tùy kỳ tự nhiên trong việc ăn ngủ, có được mấy người có thể tuân thủ tự nhiên. Bạn tuân thủ không được, vì sao? Bởi vì nó quá đơn giản, chính vì quá đơn giản, cho nên bạn không dễ mà có thể tuân thủ. Đây gọi là phép biện chứng.

85. Cái gì là cân bằng? Cân bằng chính là sự tồn tại dựa vào nhau và khắc chế nhau của âm dương, phương diện nào quá độ hoặc quá kém cũng sẽ khiến mất đi sự cân bằng. Tổn thương nguyên khí là gì, mất đi sự cân bằng chính là tổn thương nguyên khí. Thường xuyên ở trong trạng thái cân bằng, nguyên khí ắt sẽ được bảo trì tốt, con người sẽ lão hóa chậm.

86. Đạo về âm dương chính là sự tương hỗ dựa vào nhau và chuyển hóa lẫn nhau của hai phương diện mâu thuẫn đối lập. Bất kỳ một cặp mâu thuẫn nào, nếu một bên thoát ly khỏi bên kia, không còn chịu sự ức chế của đối phương nữa, thì thời điểm mà nó bị diệt vong cũng không còn xa. Bạn thử nhìn xem, xã hội ngày nay, các lãnh đạo đều không thích bị khống chế, thích được độc lập tự do, thích làm theo ý mình, tham ô hối lộ, thế thì kết quả là gì đều có thể tưởng tượng ra được. Âm và dương chính là như thế. Trong đại tự nhiên, khi một sự vật xuất hiện, đều có mang theo nhân tố do nó sinh ra, nhưng đồng thời cũng sẽ xuất hiện một nhân tố để khắc chế nó. Đó chính là đạo lý ngũ hành tương sinh tương khắc, cũng là đạo lý dựa vào nhau, ức chế lẫn nhau của âm dương. Cho nên đạo lý dưỡng sinh cũng vậy, khi bạn bị bệnh, luôn tồn tại một nhân tố khiến bạn sinh bệnh, đồng thời cũng sẽ có một nhân tố ức chế nó, có thể giúp bạn tiêu trừ nhân tố gây bệnh. Tương tự như thế trong thế giới tự nhiên, tại chỗ có tồn tại rắn độc, chắc chắn khu vực xung quanh sẽ có tồn tại loại thảo dược có thể giải độc.

87. Cái gì gọi là đắc ý vong hình (vì đắc ý mà quên đi dáng vẻ vốn có của mình) ? Anh ta đã mất đi sự khống chế, mất đi sự ức chế của mặt âm, cho nên kết quả nhất định là …. cũng như thế con người không nên để tinh thần sa sút, vì như thế sẽ mất đi sự ức chế của mặt dương đối với họ.

88. Làm thế nào để có đại trí huệ? Nếu không có tấm lòng quảng đại, ở đâu mà có đại trí huệ chứ.

89. Tục ngữ có nói, sống đến già, học đến già. Học tập cũng cần phải hợp thời, đến tuổi nào thì học những điều mà ta nên học vào giai đoạn ấy, nếu không ắt sẽ không hợp thời, không tùy kỳ tự nhiên. Nhưng hãy xem sự giáo dục của chúng ta ngày nay, từ nhà trẻ đến đại học, có bao nhiêu điều là đáng để học. Lúc còn nhỏ nên học cái gì. nên học đạo đức, học hiếu đạo, tiếp theo là học nhận biết chữ, dấu chấm câu, tiếp theo là học cách làm việc. Đến tuổi thanh niên thì học cách làm sao để sống tốt giáo dục con cái tốt, làm cho gia đình hạnh phúc. Đến tuổi trung niên, học tập đạo dưỡng sinh. Đến những năm tuổi già, học cách buông bỏ tâm thái, an hưởng tuổi già. Ngành giáo dục cần học gì, chính là học những thứ này.

90. Tình chí (7 loại tình cảm của con người) đối với bệnh tật có mối tương quan mật thiết với nhau, có một số bệnh tật là do tình chí gây ra, bạn dùng thuốc trị liệu, trị mãi mà vẫn không khỏi, đối với loại bệnh tật này, muốn cởi chuông thì phải tìm người buộc chuông. Ngũ chí có thể gây bệnh, ngũ chí cũng có thể giải trừ bệnh.

91. Dưỡng sinh có một điều rất trọng yếu, đó là không được sợ chết. Người sợ chết dương khí không đủ, dương khí không đủ, tử thần sẽ tìm ra được bạn. Đây chính là điều mà đạo gia giảng, người tu luyện cần có một khí chất anh hùng. Nhân, trí, dũng không thể thiếu một trong ba.

92. Khi nào bạn lấy học vấn lý giải được nó là vô cùng đơn giản và bình dị, lúc này bạn mới là chân chính đạt được một trong tam muội. Nếu như bạn vẫn còn cảm thấy nó là bác đại tinh thâm, thâm sâu không thể đo lường, chứng tỏ bạn vẫn chưa nắm được tinh túy của nó, mới chỉ nhìn thấy phần tươi tốt của lá cây, mà vẫn chưa nhìn thấy được căn bản của nó, lúc này bạn mới chỉ ở giai đoạn “có”, vẫn chưa đặt được cảnh giới của “vô”. Tất cả đều không thoát được âm dương, vạn sự vạn vật đều không thoát khỏi được âm dương. Căn bản của điều này chính là âm dương. Biết được một điều này, mọi sự đều có thể hoàn thành.

93. Tập trung tinh thần định khí, quên đi cả bản thân và mọi sự vật. Đó là cốt lõi của dưỡng sinh

94. Chủ minh ắt hạ an, theo đó để dưỡng sinh ắt sẽ thọ, tình thế sống chết cũng không nguy hiểm, thiên hạ ắt sẽ hưng thịnh. Chủ bất minh ắt thập nhị quan gặp nguy, khiến cho đạo tắc nghẽn không thông, thực thể liền bị thương tổn, theo đó để dưỡng sinh ắt sẽ mang họa, người trong thiên hạ, và gia tộc này sẽ gặp đại nguy,  nghiêm cấm !

95. Ứng dụng của ngũ hành tương sinh tương khắc: Phàm là do ngũ tạng hoạt động thái quá sẽ gây ra bệnh tật, đều có thể dùng phương pháp ngũ hành tương sinh tương khắc để trị. Giống như thế, phàm là vì ngũ hành không đủ dẫn khởi bệnh tật thì đều có thể dùng phương pháp ngũ hành tương sinh tương khắc để giải quyết. Đây là nguyên tắc căn bản của phép vận dụng ngũ hành.

96. Người hiện đại thường chú trọng vào phương diện truy cầu đề cao chất lượng cuộc sống, hậu quả của loại truy cầu này rất đáng sợ. Cần biết, dục vọng của con người đối với vật chất là không có giới hạn. Khi mà loại dục vọng này không được khống chế, cũng tương đương sự thống khổ không có giới hạn của chúng ta. Kỳ thực, vật chất có thể đem lại sự hưởng thụ, thì tinh thần cũng có thể; thuốc có thể trị bệnh, thì phương pháp trị liệu tâm lý cũng có thể làm được. Cho nên, chúng ta dùng cả cuộc đời để truy cầu tài phú, thì chi bằng hãy dùng quãng thời gian ấy để bồi dưỡng một loại tâm thái tốt, khiến cho tinh thần của chúng ta đạt tới một loại cảnh giới siêu phàm.

97. Sau khi con người nắm vững được phương pháp về sức khỏe, họ sẽ thực sự hưởng thụ được một trạng thái tự tin khi không còn lo sợ mắc bệnh. Cái loại cảm giác này thật tuyệt, hy vọng rằng bạn và chúng tôi đều có thể có được trạng thái tự tin đó.

98. Thân thể của chúng ta là một cơ thể có đầy đủ trí tuệ và chức năng, thân thể của chúng ta có rất nhiều “lính gác” như: răng, ruột thừa, a-mi-đan v.v… Khi thân thể chúng ta có hiện tượng dị thường (thông thường là “thăng hỏa”), những lính canh này sẽ lập tức phản ứng thông báo tới đại não. Người thông minh lúc này nên điều tiết lại tâm thái, kiểm điểm bản thân, để thân thể cân bằng hài hòa trở lại. Vậy mà hiện nay Tây y đều làm những việc gì? Bạn bị đau đúng không, tôi sẽ cắt bỏ bộ phận bị đau của bạn. Hiện nay thậm chí còn có người, phát minh ra một loại máy, bạn bị viêm mũi dị ứng sẽ phải hắt xì hơi đúng không? Vậy tôi sẽ đốt cháy khu vực thần kinh mẫn cảm trong mũi của bạn, như thế sau này mũi bạn có bị kích thích gì đi nữa cũng sẽ không bị hắt hơi. Hậu quả của những việc làm như thế của Tây y chính là sau này nếu chúng ta lại tiếp tục bị bệnh, thì bộ phận bị cắt bỏ chính là lục phủ ngũ tạng của chúng ta.

99. Hãy nhớ kỹ, khi chúng ta ngẫu nhiên bị đau bụng, hắt hơi, ho, phát sốt v.v… đều là hệ thống phục hồi thân thể của chúng ta đang hoạt động, đừng có quá lạm dụng thuốc khi vừa mới xuất hiện bệnh trạng, nếu không chính thuốc ấy sẽ phá hoại chức năng phục hồi thân thể của bạn, khi mà chức năng phục hồi của bạn bị suy yếu hoặc mất đi, thế thì bạn đã giao vận mệnh của mình cho thuốc rồi. Nên nhớ rằng, nếu bệnh trạng không nghiêm trọng, biện pháp tốt nhất là dưỡng tĩnh, an tâm tĩnh khí có thể khiến hệ thống sữa chữa của bản thân hoàn thành được công tác phục hồi. Cho nên, mỗi một người trong chúng ta cần thận trọng khi dùng thuốc, để cho hệ thống hồi phục chức năng của cơ thể được khôi phục, đây mới chính là đạo chân chính trong việc giữ gìn sức khỏe.

100. Rất nhiều trọng bệnh hoặc bệnh hiểm nghèo, đều chỉ bắt nguồn từ một lý do: Hận. Khi mà cái hận này biết mất, bệnh ắt cũng theo đó mà tiêu trừ. Trong thế gian này điều khó giải quyết nhất chính là hận thù kéo dài, chính vì không hóa giải được cái hận đó, mới có những bệnh không thể trị khỏi được.

Nguồn: NTDTV
Biên tập: Tuệ Minh

Lê Thiện sưu tầm

TÁC DỤNG KỲ DIỆU CỦA BỘT GẠO LỨT ĐỎ RANG




                                         Bột gạo lứt rang trị bệnh thoái hóa khớp


Bột gạo lứt rang trị bệnh thoái hóa khớp – Trước khi dùng nước gạo lứt, tôi đã phải dùng nịt vải dầy, to bản băng vào hai đầu gối. Tôi đi từng bước nặng nhọc và có cảm giác đầu gối muốn sụm xuống (tôi bị sụm một lần khi bước chân lên xe buýt).
Bột gạo lứt rang

Tôi rất buồn khi thấy mình sắp trở thành phế nhân khi tuổi chưa già. Tôi bị thoái hóa khớp gối chân trái và phải. Tôi không chạy xe đạp được, không đi lại được. Tôi tưởng đời đã khép lại với tôi. Nhưng sau khi uống hết 2 kg bột gạo lứt rang, bịnh thoái hóa 2 khớp gối của tôi gần như hết 8/10.

Thời may, có người  tặng cho tôi 2 kg bột gạo lứt rang và nói tôi dùng thử. Tôi không tin, nhưng sẵn có bột thì dùng thử, đâu có hại gì? Tôi nghĩ như vậy và bắt đầu uống. Cứ 1 ly nước sôi khoảng 200cc, tôi cho vào 2 muỗng cà phê bột gạo lứt rang. Mỗi ngày tôi uống 2 ly, tức là 4 muỗng cà phê bột gạo lứt rang. Sau đó, tôi lên mạng lứt tìm thông tin xem gạo lứt rang tốt cỡ nào? Càng đọc tôi càng thấy phấn chấn. Tôi được biết gạo lứt rang có rất nhiều tác dụng tốt để chữa được nhiều bệnh. Sau khi uống bột gạo lứt được 10 ngày, thì tôi hiểu chữ nhẹ người là sao. Trước đây người tôi rất nặng nề (tôi thừa tới 10 kg), bây giờ thì tôi có cảm giác mình linh hoạt, bước chân của tôi nhanh hẳn lên. Và sau khi dùng hết 2 kg bột, tôi không còn phải băng đầu gối nữa, tôi đi nhanh như chạy cũng được. Người chỉ cho tôi uống bột đã khỏi bệnh hoàn toàn, đến nay đã 3 năm rồi, bệnh vẫn không tái phát.

Có 3 cách dùng gạo lứt rang

1/ Bột gạo lứt rang: Rang gạo cho đến khi một số hạt gạo nở bung lên như bắp bung, là được (không cần nở bung hết, chỉ một số hạt thôi).

2/ Trà gạo lứt: Mua gạo lứt đỏ, vo sạch, để ráo nước. Khi vừa ráo nước thì bạn rang liền (đừng để hạt gạo khô quá, không thơm). Rang nhỏ lửa, khuấy đều tay. Khi hạt gạo hơi sậm màu và có mùi thơm (như bạn rang đậu phộng vậy) là được. Bạn đổ gạo vừa rang vào một cái rổ, có lót sẵn một miếng vải. Bạn phủ vải kín hạt gạo. Khi gạo nguội rồi bạn đổ gạo rang vào cái hũ có nắp kín để bảo quản. Mỗi ngày, bạn múc vài muỗng gạo lứt rang ra pha như pha trà. Trà có màu cánh dán rất đẹp, rất thơm. Uống đậm hay nhạt, nhiều hay ít tùy bạn thích. Càng uống nhiều thì bệnh càng mau có kết quả. Khi uống xong nước thứ nhất, bạn lại chế nước sôi vào lần hai, rồi lần ba. Hoặc bạn pha 3 lần, rồi trộn lẫn vào nhau mà uống.

3/ Cốm gạo lứt: Gạo lứt vo thật sạch, nấu thành cơm. Để nguội, bóp rời ra, phơi khô, sau đó rang lên. rồi ủ với muối, sau khi cốm được ủ nguội thì sàng cho tinh muối rơi ra Bây giờ hạt gạo trở thành cốm, giòn tan, ăn rất ngon.
Qua kinh nghiệm bản thân, tôi thấy việc dùng gạo lứt rang để trị thoái hóa khớp là một phương pháp rất hay, nhưng không hiểu vì sao ít người biết đến, và không được phổ biến rộng rãi?

Nếu bạn nghi ngờ, xin hãy dùng thử. Như tôi đã từng nghi ngờ và đã dùng thử. Khi bạn đã dùng bột hay uống trà thì cần phải liên tục mỗi ngày. Chỉ uống hết 1kg bột thôi, bạn sẽ cảm nhận được sự thay đổi tốt hơn rất nhiều.


Thành phần:
Gạo lứt đỏ 6 tháng theo mùa, rang chín, xay nhuyễn.

Công dụng:
Bột gạo lứt trị thoái hóa khớp, rất hiệu quả, giúp nhuận trường tiêu hoá, giúp giải quyết bệnh táo bón, kiết lỵ, nếu bột được rang sạm vàng, ăn với nước tương tamari 3 năm,có khả năng làm tan sỏi trong thận và mật. giúp cơ thể dương hoá rất nhanh, bạn dùng bột gạo lứt thay thế bữa ăn hàng ngày sẽ giúp bạn cân bằng âm dương, giảm cân rất hiệu quả, vừa an toàn, không lo thiếu chất, và cho bạn một dáng hình thon gọn thật dễ thương.vì thành phần trong hạt gạo lứt đầy đủ các khoáng tố đa lượng, vi lượng, chất đạm chất bột, chất béo luôn cao hơn rất nhiều lần so với gạo xát trắng, bổ sung vi chất thiết yếu như axit folic, sắt, canxi. kẽm, magan vv...

Cách dùng:
Cho 2 muỗng bột nhỏ vào 100ml nước sôi, khuấy đều với ít muối thiên nhiên hoặc Miso, tamari hoặc mật ong tùy khẩu vị. tốt nhất không nên dùng ngọt.

Tuỳ theo từng nhu cầu và trường hợp ví dụ: nếu bị sỏi trong mật hoặc trong thận, cần rang bột kỹ sậm màu, dùng 3-4 muỗng canh pha với nước sạch  và đun kỹ trên lửa khoảng 10 phút với 1 muỗng cafe tamari ăn nóng thay các bữa ăn chính tuyệt đối không dùng mè hoặc dầu mè.sẽ giúp ích tan dần sỏi thận, mật tuỳ thuộc vào thời gian sử dụng. nên dùng 3-4 ngày liên tục sẽ thấy kết quả. không nên ăn hoặc uống thêm bất cứ thứ gì khác

Lê Thiện trình bày.
hotline: 0909 933 705

CÂU HỎI VỀ DƯỠNG SINH



HỎI

Con trai tôi sinh năm 2008, từ lúc sinh đến khoảng trên 02 tuổi, bé không bị hen suyễn. nhưng khi 
khoảng trên 02 tuổi thì bé bị ho và lên cơn suyễn. Hiện tại bé được Bác sĩ Bệnh viện NHi đồng 1 cho xịt thuốc chống viêm (chai thuốc máu cam) (01 ngày xịt hai nhát). Con tôi ăn uống rất được, nhưng không hiểu tại sao cơ thể bé lại rất gầy. tôi rất lo, không biết bé xịt thuốc trên có ảnh hưởng gì không? Tôi có xem trên mạng về Thực dưỡng kiến tạo sức khỏe. Vậy tôi xin hỏi  có thể áp dụng thực dưỡng để trị bệnh suyễn được không, và  áp dụng như thế nào về thực phẩm cũng như cách chế biến để bé có thể giảm bớt bệnh tình? Tôi xin cám ơn  rất nhiều.


 TRẢ LỜI
Thực dưỡng không phải là một phương pháp chữa bệnh , mà là một nghệ thuật ăn uống , sống quân bình để có một đời sống an vui tự tại. Thực dưỡng tạo môi trường thuận lợi để “đánh thức lại khả năng tự chữa bệnh của cơ thể ” mà thiên nhiên đã ban tặng cho ta. Đó là khả năng tự chữa lành mọi loại bệnh, khả năng này sẳn có trong cơ thể tất cả mọi sinh vật , tuy nhiên không nên để cơ thể quá suy kiệt, quá lớn tuổi, bệnh quá lâu thì sự tự chuyển hóa từ bệnh tật trở thành lành mạnh sẽ không còn đủ thời gian .
Việc quân bình này không phải duy chỉ có cái ăn uống mà kiến tạo được sức khỏe lành mạnh. Ngoài 2 yếu tố bẩm sinh và môi trường ( khó thay đổi )

Còn 3 yếu tố ( có thể thay đổi ) phải lập lại quân bình thì mới mong có sức khỏe lành mạnh vô bệnh được :
1.- Quân bình thân  ( tập luyện cơ thể )
2.- Quân bình ăn uống ( thực dưỡng )
3.- Quân bình tâm trí ( tinh thần bình an )
** Quan trọng hơn cả là :
A. Phơi nắng lưng, ngực bé lúc 9h sáng , đi bộ chút chút (để luyện hình : tạo KHÍ)
B. An vui, kể chuyện cổ tích, tạo không khí vui vẻ, bạn cùng tuổi (để tinh thần bình an : tạo Thần)
C. Và : tạo “Tinh” bằng thức ăn quân bình và trợ phương như sau :

1.- Trước tiên ngưng ăn tất cả những thức ăn quá âm (  nhất là trái cây, đường, nước ngọt, bánh ngọt , nước đá  . . . ), tạm thời giảm tối đa dầu ăn, sữa..
2.- Mỗi ngày sắc nước củ sen ( 30 gram ) + tía tô ( 10 gram ) sắc đặc uống chia 2 đến 3 lần
3.- Uống trước và khi lên cơn suyễn 1 muỗng súp nước cốt củ sen sống, uống từng hớp . Tuyệt đối cấm không cho muối vào dù chì 1 hột muối .
4. Tối trước khi đi ngủ xoa dầu mè gừng lên ngực cháu. 2 thứ bằng nhau. Cháu cháu bé quá da mỏng thì cho lượng cốt gừng bằng 1/2 lượng dầu mè sợ bị nóng da quá .
5.-Các món ăn lợi ích cho bệnh suyễn : .
* Cơm trộn với 1/3 muỗng (nhỏ,cà phê ) Tekka , trộn vào trong cơm .
* Súp cá chép+ngưu báng+hiziki ( tóc tiên) , súp củ cải trắng khô +miso , đều là những món ăn rất tốt cho bệnh phổi, suyễn .
* Bé con thường Dương nên không cho ăn mặn quá .
* Uống Váng cháo gạo lứt nấu với 2 lát mõng gừng , ( hoặc váng cháo gạo lứt + ý dĩ ) ”
* Cách ngày tập cho Cháu uống 1/2 muỗng nhỏ Coffee ohsawa ( pha với 3 muỗng nước sôi ) hoặc vài hớp Trà Mu .
——————————————-
Cách ăn uống theo thực dưỡng  dù là  trẻ con hay người lớn cũng gần giống nhau, có thể thay cơm bằng bột kohkoh, thêm bột hạt sen (tốt cho phổi và hen suyễn), chút ít bột sắn dây. Trợ phương  sẽ hữu hiệu cho bệnh suyễn, thì giảm dần thuốc xịt cho đến khi bỏ hẳn thuốc xịt.
Tác dụng phụ của thuốc xịt thì tai hại vô cùng, không biết đâu mà lường nhất là trẻ con. Nó gây ra đủ mọi loại bệnh !

HỎI
Tôi bị dị ứng (nổi mề đay) thì ko được sử dụng mè. Vậy có thể thay bằng dầu dừa để chiên, xào, chế biến món ăn hàng ngày được ko? Dùng dầu dừa thường xuyên như vậy thì có vấn đề gì ko? Nên dùng loại dầu nào để thay thế dầu mè ạ? Nếu sau này chữa được bệnh dị ứng rồi thì có thể sử dụng mè lại được hay ko? 
Tôi xin chân thành cám ơn. 

TRẢ LỜI.
Tất cả mọi loại dầu đều làm trương nở, không được lạm dụng. Dầu dừa, dầu phộng, dầu mè, dầu olive cũng không ngoại lệ. Nếu dùng dầu mè hay olive nhiều thì còn tệ hại hơn dùng ít dầu dừa .(cái lượng giết cái phẩm)
Dầu dừa thì âm hơn dầu mè và dầu olive, loại dầu tốt nữa là dầu trong hạt óc chó và hạt hạnh nhân ( cũng vậy lạm dụng là phản tác dụng )
Tuy nhiên nếu dùng bất cứ dầu gì mà khi đi cầu thấy có màng màng nổi trện nước thì nên ngưng ngay. Còn nguy hơn nữa là vào cơ thể nếu có thêm đường, bánh ngọt. . . thì dầu kết hợp với đường tạo nên một chất độc hại không thể tả! Vô phương hóa giải được độc chất này.

THẾ NÀO LÀ ÂM & DƯƠNG TRONG PHƯƠNG PHÁP THỰC DƯỠNG




1. HỎI: THẾ NÀO LÀ ÂM DƯƠNG?


ÂMDƯƠNG chỉ là 2 từ dùng để chỉ 2 thuộc tính khác nhau trong cùng một phạm trù sự vật hay hiện tượng hoặc cảm tính, hai thuộc tính này hoàn toàn đối lập nhau nhưng lại hổ tương cho nhau tạo thành nghĩa cho nhau, thí dụ ngày và đêm; sáng và tối; hưng phấn và ức chế; yêu và ghét; Học thuyết Âm dương xuất xứ từ nền cổ đại đông phương dùng để giải thích và phân loại mọi sự vật về sự phát triển và chuyển hóa qua lại của nó. Như vậy, khi phân lọai âm dương thì điều quan trọng nhất phải là xác định được phạm trù sự vật liên hệ trước đã  thì sự phân loại mới có giá trị của nó:
Thí dụ: trong phạm trù các loại cốc loại thì “kê” dương hơn “nếp”; trong phạm trù trái cây, thì “trái táo” dương hơn “trái cam”.

Ngoài ra, để phân loại và ứng dụng âm, dương được đúng đắn và thích hợp thì việc phân loại này còn phải chú ý đến những nguyên tắc cơ bản như sau:

Âm, dương chỉ có tính cách tương đối , thí dụ So nước lạnh với nước ấm, thì nước ấm là dương, còn nước lạnh là âm, thế nhưng khi so nước ấm với nước nóng thi nước ấm sẽ là âm và nước nóng sẽ là dương vì thế một vật bản chất vốn không phải là dương hoặc âm gì cả, nó sẽ chỉ trở thành âm hoặc dương tuỳ theo so sánh nó với một vât khác mà thôi và dĩ nhiên việc so sánh này phải xảy ra cùng một đằng lượng.
Âm dương chỉ là 2 danh từ tổng quát không thể diễn tả chính xác khi không xác định được phạm trù so sánh, thí dụ: trong phạm trù trái cây thì trái táo “dương” hơn trái cam, và trong phạm trù cốc loại thì kê dương, nếp âm; tuy nhiên trái táo “dương” khi so với nếp âm, nghĩa “dương” của táo sẽ trở thành “âm” đối với nếp vậy. Vì thế, sự phân định âm dương còn phải tuỳ thuộc vào “nhóm” hoặc “lớp” hoặc nói chung “phạm trù của nhiều loại cùng chung đặc tính” khác nhau.

Sự phân định âm dương dựa trên nhiều nguyên tắc về vật lý, hoá học, sinh vật học, sinh thái họ, sinh lý học và sinh hoá học, và định hướng phát triển cho nên một vật thể  hoặc một loại thực phẩm có thể có màu đỏ (dương so với màu xanh âm) nhưng lại có tác dụng trương nở (trương nở âm so với co rút được qui định là dương); như vậy sự phân định âm dương trên cùng một vật thể sẽ gồm nhiều yếu tố âm dương mâu thuẩn nhau: về phương diện vật lý thuộc dương, nhưng về phương diện sinh vật học lại thuộc âm, hoặc về phương diện hoá học thuộc âm nhưng về phương diện sinh thái học lại thuôc dương. Như vậy, sự phân định âm dương chỉ có tính cách tương đối khi so sánh lẫn nhau trong một phạm trù nhất định nào đó thôi và vìệc áp dụng thực tiển chỉ chú trọng vào tác dụng của thực phẩm hay vị thuốc ấy đối với cơ thể là chính yếu.

Trong thực tế áp dụng, thì Tây y chú trọng đến thành phần hóa học tác dụng chủ yếu trên cơ thể khi trị bịnh, đông y chú trọng đến tính năng, tính dược, quy kinh và chủ trị của vị thuốc, bài thuốc hoặc huyệt vị, Ohsawa tiên sinh người đề xướng ra phương pháp dưỡng sinh dựa vào 2 yếu tố K(Potassium) và Na (Natrium) trong thành phần hóa học của thực phẩm để tạm thời phân định âm dương một cách tổng quát thôi vi còn nhiều thành phần khác hiện hữu nữa. Thực dưỡng cũng sẽ chú trọng chủ yếu vào những lớp hay những loại thực phẩm, vị thuốc, bài thuốc nào hổ trợ cơ thể dễ duy trì hay tái lập lại thế quân bình bền nhất, kế đó là những tính năng, tính dược đặc biệt của loại thực phẩm hay vị thuốc đó đối với một phần cơ thể hay toàn bộ cơ thể, thí dụ khi xử dụng trái ớt đỏ thì sẽ không quan tâm đến màu đỏ “dương” (so với màu xanh của trái ớt khác chẳng hạn) mà chỉ chú trọng đến tác động của ớt lên cơ thể thì làm cho trương nở, nóng rát, chảy nước mũi…

Tóm lại, âm dương của một loại thực phẩm hay vị thuốc chỉ được phân loại sau khi đã được xếp trong một lớp nào đó, thí dụ lớp cốc loại hay lớp củ, rễ và tính dược cùng tác dụng chủ yếu của nó đối với cơ thể thí dụ như trị đau lưng, đau  xương, hay gây ra tình trạng máu bị acid hóa.. mà thôi.



2  HỎI: NGUYÊN TẮC NÀO ĐỂ PHÂN ĐỊNH ÂM DƯƠNG?
Âm dương chỉ có tính cách tổng quát và chỉ ứng dụng sau khi đã đi sâu vào chi tiết; sự phân biệt cũng theo 7 nguyên tắc như sau:

Về vật lý:
* Màu sắc theo Phân Quang đồ : Đỏ, Cam, Vàng, Lục Lam, Chàm Tím . ( Sắp xếp
Thứ tự từ Dương đến Âm ) . Các làn sóng ngắn càng Dương toả nhiệt càng nhiều .
*Hình dáng: hình chữ nhật đứng âm hơn so với hình chữ nhật nằm ngang, hình dạng nhỏ hơn dương hơn ;
*Trọng lượng: vật có cùng thể tích nhưng tỉ trọng hay trọng lượng nặng hơn thì dương hơn
*Cấu trúc: vật đặc hơn thì dương hơn so với với rỗng hơn;

Vê hoá học:
*Thành phần K/Na: càng lớn thì càng âm hơn so với vật thể cùng một đằng lượng.
*Thành phần nước chứa bên trong: càng chưá nhiều nước càng âm hơn.
*Nhiệt độ:Nóng hơn thì dương hơn so với lạnh

Về định hướng phát triển:
*Trên mặt đất: càng phát triển xa mặt đất càng âm thí dụ cây dừa âm hơn so với cây đu đủ
*Dưới mặt đất: Đâm sâu thẳng xuống lòng đất là Dương, lan rộng ra dưới mặt đất là Âm, thí dụ như củ sắn dây dương hơn so với củ khoai mì

Về sinh vật học:
*thời gian tăng trưởng: cùng trong một thời gian, vật thể tăng trưởng chậm dương hơn so với vật tăng trưởng nhanh hơn.
*thời gian nấu chín: càng nấu lâu hơn thì càng dương hơn

Về sinh thái học:
*khí hậu: vật mọc ở xứ lạnh có khuynh hướng dương hơn so vói vật mọc ở xứ nóng hơn, thí dụ trái cây mọc ở vùng hàn đới dương hơn trái cây mọc ở vùng nhiệt đới;
*khuynh hướng: phát triển trong mùa thu, mùa đông, khí hậu lạnh, độ tăng trường chậm hơn, dương hơn vất thể phát triển vào mùa xuân, mùa hạ, khí hậu ấm hơn, độ tăng trường nhanh hơn.

Về sinh hóa học:
*khuynh hướng phát triển: vật thể càng ly tâm lực chi phối nhiều chừng nào thì càng âm hơn so với vật bị cầu tâm lực chi phối nhiều hơn, thí dụ chúôi phân mãnh thành nãi thành trái âm hơn so với trái mận;
*phản ứng hóa học: làm cho co rút, teo tóp là dương so với làm cho dãn nở, choáng váng, say thì âm hơn
*thời gian tác dụng: sốt cao từ sáng đến trưa dương hơn sốt cao từ chiều đến tối.

Về sinh lý học:
* Vị trí: Phần  sau đầu là dương, trán và hai thái dương là âm
* Sinh hoạt: hoạt động thì dương hơn so với thụ động
* Dưỡng khí ( oxygen ) : nhiều là Dương, ít dưỡng khí là Âm
* Hơi thở và nhịp đập tim : Nhanh là Dương, Chậm là Âm
*Tác động :   làm cho co rút, teo tóp  là Dương , Làm cho dãn nở , choáng váng, say, là Âm
* Xúc Cảm : Vui là Dương , Sợ là Âm
* Nhiệt Độ : Nóng là Dương, lạnh là Âm
* Màu da :  Hồng  là Dương , Nhợt xanh là Âm
* Giọng nói : giọng cao to là Dương , giọng lí nhí thấp là Âm

THỰC PHẨM HAY VỊ THUỐC?

3. HỎI: ÂM DƯƠNG ÁP DỤNG NHƯ THẾ NÀO TRONG VIỆC PHÂN LOẠI VÀ LƯẠ CHỌN 

Trong thực tế , việc áp dụng phân biệt âm dương chủ yếu giúp cơ thể duy trì hoặc tái lập quân bình của cơ thể thuận lợi hơn cả, trước tiên là cần phân loại theo từng lớp có những đặc tính tương đối giống nhau theo thứ tự từ lớp giúp cơ thể dễ duy trì quân bình nhât cho đên những lớp khó duy trì hơn. Ngũ cốc là lớp có khả năng tạo quân bình tốt nhất.
Kế đó, cần chú ý đến tính dược của từng loại thực phẩm trong từng lớp đã phân loại và tác dụng của nó đối với từng bệnh trạng của cơ thể,
Thí dụ như bệnh ngứa lở ngoài da thì dù  bắp lứt rất ưa dùng trong thực dưỡng, nhưng do cái tính chất riêng của bắp là làm lở da . Vậy bệnh lở ngứa ngoài da không nên ăn bắp, nếp, mè
Bệnh ho tránh ăn mè , ăn nếp ( nếp tạo nhiệt là làm khó thở ). Sau đó, mới phân biệt bệnh lở ngứa, hay ho, thuộc âm tính hay bệnh lở ngứa, ho, thuộc dương tính để có thể điều trị được tỉ mỉ hơn. Tuy nhiên, việc phân tích tỉ mỉ như vậy trong một số lớn trường hợp là không còn thực sự cần thiết nữa.

4 HỎI: THỰC DƯỠNG ÁP DỤNG ÂM DƯƠNG  NHƯ THẾ NÀO TRONG VIỆC PHÂN LOẠI & CHỮA BỆNH
Bệnh do thiên thiên :do di truyền, bẩm sinh, do cấu trúc bất thường của cơ thể. Nếu thuộc loại này thì việc điều chỉnh cho cơ thể quân bình đòi hỏi thời gian lâu dài kết hợp với nhiều phương cách khác nhau.


Xem thể trạng người bệnh :
* Cao to vạm vỡ tiếng nói lớn ồn là Dương, tiếng lí nhí nhỏ thấp là Âm
* Da mặt hồng là Dương , xanh lợt là Âm
* Người khô gầy là Dương, mập nhiều nước là Âm
*  Rêu lưỡi vàng chạch là Dương, Rêu lưỡi trắng dày  là Âm. Nếu trắng mà nhớt là ăn nhiều đường, trái cây , quá nhiều sữa, quá nhiều chất béo .
* Thời gian trước khi bệnh ăn quá nhiều thịt là Dương, Ăn quá nhiều trái cây, đường chè, kem, sữa là Âm .
* Phân đi cầu khô như phân dê là Dương , phân đi cầu nhão vô nước rả ( không còn hình dạng ) là Âm .
* Phân đi cầu không nổi trên mặt nước mà chìm là nhai không nhỏ, ăn quá nhiều làm cho ruột,  nhất là mao trạng ruột suy yếu , kém hoạt động .
Về việc chữa trị:
1. Dùng những lớp thực phẩm dễ giúp cơ thể tái lập quân bình thì sức khoẻ sẽ dần dần hồi phục và nếu biết đích xác bệnh thuộc Âm hay Dương thì thời gian phục hồi có thể nhanh hơn.
2. Thay đổi và gia giảm những loại thực phẩm khác nhau trong những lớp dễ giúp cho cơ thẻ tái lập lại quân bình nhất như lớp cốc loại lứt, lớp rau tươi và các loại đậu, đặc biệt phải chú trọng đến tính năng, tính dược của những loại thực phẩm được dùng đối với cơ thể người bịnh  để không ảnh hưởng đến việc phục hổi bịnh.
3. Khi hiện trạng cơ thể lệch Dương thì không nên đưa một lượng Âm lớn vào để trung hoà Dương lệch mà phải Giảm lượng Dương ( giảm muối, tương )và thêm chút Âm (thêm rau củ nấu sơ,  nước uống ). Ngược lại khi cơ thể lệch Âm thì không nên đưa một lượng Dương lớn vào để trung hoà lượng Âm đang có mà phải Giảm lượng Âm ( bớt rau củ, bớt nước ) và thêm chút Dương ( thêm tương muối , rau củ nấu với thời gian lâu )
* Không nên nóng vội Dương hoá cơ thể, mà phải chuyển hoá từ từ từng bước một không gây ra tình trạng đột biến có thể nguy hại đến bịnh nhân.
4. Không bao giờ thay đổi đột ngột thức ăn mà phải từ từ ( mưa dầm thấm lâu ), ngoài trừ trường hợp đặc biệt và dùng trong một thời gian giới hạn có điều kiện  ( dùng thuần cốc loại lứt) tuỳ theo tình trạng bệnh và thể trạng của cơ thể.
5. Kinh nghiệm ăn theo thực dưỡng trị bệnh:
Ăn 3 ngày ngủ cốc ròng, rồi 1 tuần cơm lứt với đầy đủ rau củ , kế tiếp lại 1 tuần ngủ cốc ròng và luân phiên thay đổi như thế cho đến khi sức khoẻ cải thiện. Sử dụng hết một đợt tác động Dương rồi đến tác động Âm như thế cơ thể sẽ  thay đổi từ Dương đến Âm, rồi từ Âm đến Dương tránh không lệch quá về một bên đồng thời giúp cơ thể bổ khuyết được cả âm lẫn dương để dễ tái lập quân bình hơn.

Ghi chú :
Tỷ lệ muối dùng ăn, nêm nếm thức ăn tránh dùng nhiều khiến cho cơ thể  thì đòi hỏi uống nhiều nước hơn để trung hòa sẽ gây ra nhiều bất lợi hơn .

Ăn ròng ngũ cốc hoặc ăn thêm với rau sẽ giúp cơ thể dễ tái lập lại quân bình hơn cả . Tuy nhiên ăn ròng ngũ cốc chỉ với một thời gian giới hạn nhất định và nên tham khảo với người đã có kinh nghiệm thực hành lâu năm; thời gian ăn phải tuỳ từng thể trạng của mỗi người , không có một gìới hạn nhất định chung cho tất cả mọi người. Phải căn cứ vào trọng lượng cơ thể và tình hình sức khoẻ cho phép. Cần đề phòng bị suy dinh dưỡng và có trường hợp bị tụt áp huyết thình lình .


Thực Hư Gạo Lứt Nhiễm asen Gây Ung Thư

            Thực hư gạo lứt nhiễm asen gây ung thư


             TIN LIÊN QUAN

 Nước gạo lứt giúp da hồng hào, sáng đẹp

Gạo lứt chữa được những bệnh gì?


(Kiến Thức) - Hàm lượng asen trong gạo lứt đều cao hơn gạo trắng. Asen có thể vô hiệu hóa hệ thống tự sửa chữa AND trong cơ thể...?
Nguy cơ nấm mốc cao hơn asen. Bạn đọc Đinh Thúy Linh (Hà Nội) chia sẻ, thông qua tòa soạn hướng dẫn sử dụng gạo lứt có thể hỗ trợ trong điều trị ung thư. Vì thế, bà đã sử dụng trong gần 10 năm qua. Tuy nhiên, bà thực sự lo lắng với thông tin dịch từ nước ngoài cho thấy, gạo lứt lại là một trong những yếu tố hiện hữu  gây ung thư.

 Theo đó, khảo sát về an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng được Hiệp hội Người tiêu dùng Mỹ tiết lộ: Hàm lượng asen trong gạo lứt đều cao hơn gạo trắng. Asen có thể vô hiệu hóa hệ thống tự sửa chữa DNA trong cơ thể. Theo cách này, DNA một khi bị hư hỏng sẽ khó lòng hồi phục trở lại, dễ đột biến gây ung thư. "Tôi rất lo lắng khi đọc được thông tin này. Không rõ ở Việt Nam, nguy cơ này có hay không?", bà Linh nhấn mạnh. 


Theo PGS.TS Lê Huy Hàm, Viện Di truyền nông nghiệp, gạo lứt nói riêng hay gạo trắng nói chung thường nhiễm asen thông qua đường nước tưới, đất trồng. Khi đất, nước bị nhiễm asen thì nguy cơ đó cũng sẽ cao hơn. Tuy nhiên, đến nay ông chưa thấy Việt Nam công bố hàm lượng gạo nhiễm asen cao đến mức ảnh hưởng sức khoẻ. "Các cơ quan chức năng thông qua đây cũng nên kiểm tra thường xuyên hơn để mang đến thông tin chính xác cho người dân", PGS.TS Lê Huy Hàm cho hay. 


Cùng quan điểm, TS Nguyễn Văn Đoàn, Giám đốc Trung tâm Chế biến nông sản thực phẩm, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch cho rằng, nguy cơ gạo lứt nhiễm asen về cơ bản không khác gì gạo trắng. Bởi cùng trồng và chăm bón như nhau, khác là ở chỗ có xát trắng hay không. Đến nay thông tin gạo Việt Nam trồng nhiễm asen chưa có. Nhưng nguy cơ nhiễm nấm mốc gây ảnh hưởng sức khoẻ của gạo lứt có thể cao hơn gạo trắng. "Gạo lứt có màu tối, chưa được chú trọng trong bảo quản nên khả năng bị nhiễm mốc cao hơn asen. Khi gạo mốc có thể gây nên nhiều bệnh khác", TS Nguyễn Văn Đoàn cho biết.

  Cần bảo quản gạo lứt trong môi trường lạnh khi dùng hoặc cho vào thùng khô, chống ẩm. An toàn trong ngưỡng cho phépĐể làm rõ hơn thông tin một cách khoa học, chúng tôi tìm đến một số nghiên cứu thực tế trong những năm gần đây của các chuyên gia thuộc Khoa Môi trường, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội về liều lượng rủi ro của asen trong gạo. Theo đó, môi trường bị nhiễm kim loại nặng nói chung hay asen nói riêng sẽ thâm nhập vào nước, hấp thụ vào trong cây lương thực, rau quả, động vật, tiềm ẩn nguy cơ phơi nhiễm cho con người. Tại các địa điểm hoạt động công nghiệp, làng nghề tiểu thủ công nghiệp là một trong những nguồn chủ yếu đưa các chất này vào môi trường.

 Các nhà khoa học đã phân tích gạo ở một số vùng như Văn Môn, Yên Phong (Bắc Ninh) và Thạch Sơn, Lâm Thao (Phú Thọ) cho thấy, hàm lượng asen trong gạo của các khu vực này cao hơn gạo ở khu vực bình thường được đối chứng... Tuy nhiên, mức tích lũy vẫn nằm trong ngưỡng an toàn cho phép. "Theo tính toán chỉ số liều lượng rủi ro của asen từ gạo đối với người dân ăn gạo này cao hơn gạo bình thường. Vì thế, người dân khu vực này cần được cảnh báo. Đồng thời tiến hành nghiên cứu chi tiết hơn và có sự so sánh với gạo các khu vực khác", các nghiên cứu chỉ rõ.

 Từ vấn đề này, các chuyên gia cho rằng, thông tin Hiệp hội Người tiêu dùng Mỹ đưa ra chưa cụ thể hoặc được truyền đạt chưa khoa học. Đối với Việt Nam, yếu tố gạo lứt nhiễm asen chưa cao và nó tương đồng với gạo trắng. Người dân vẫn có thể dùng an toàn, không cần lo lắng. Cần bảo quản gạo lứt trong môi trường lạnh khi dùng hoặc cho vào thùng khô, chống ẩm. Không đổ gạo vào thùng đựng vốn dĩ chứa hóa chất, sơn, keo để tránh thôi nhiễm kim loại nặng, trong đó có asen. Thời gian sử dụng gạo nên trước một tháng.


"Gạo lứt không phải chủ đạo chữa ung thư mà chỉ có khả năng hỗ trợ chống lại bệnh này. Bởi gạo lứt chứa nhiều vitamin và khoáng chất khác nhau với tỷ lệ cân đối. Khi cơ thể được cung cấp đầy đủ chất sẽ tăng sức đề kháng, giúp chống chọi bệnh tật và ung thư"

                                                                                                                  PGS.TS Lê Huy Hàm  


Lê Thiện Sưu Tầm  ngày 21/2/15

Video

Món Chay